politics
by
sunui848
p
politics
0 Followers
10 điều cần phải biết về hiệp định TPP
Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và 9 quốc gia khác đã hoàn thành ký kết TPP. Theo Ezlaw, TPP sẽ là một trong những sự kiện lớn nhất xảy ra với Việt Nam trong 20 năm nay (kể từ thời điểm Việt Nam và Mỹ bình thường quan hệ hóa vào năm 1995). Bạn có biết TPP là gì ? TPP là một hiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mại Việt Nam và Quốc tế. Bạn vẫn muốn biết rõ hơn về TPP? Sau đây là những điều căn bản nhất mà bạn cần biết về hiệp định này. TPP, viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản. *Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP *TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hòa Kỳ quyết định tham gia và dẫn đầu. Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động… Các quốc gia thành viên hiện tại của TPP chiếm 40% GDP của cả thế giới và 26% lượng giao dịch hàng hóa toàn cầu. Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vào khu vực Trung Đông. Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh của Trung Quốc. Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng nhiều điều khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội tham gia vào thỏa thuận này. WTO hiện có tới 161 thành viên, vì vậy một trong những nhược điểm của mô hình này là sự khó khăn và dài lâu để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì. Hơn thế nữa, TPP sẽ đặt ra được các luật lệ quốc tế mà vượt qua phạm vi WTO như: chính sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát các công ty nhà nước, chất lượng sản phẩm và lao động… Hầu hết các thỏa thuận quốc tế là về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, ví dụ như: Ta có thể nhập khẩu số lượng X hàng hóa với giá Y khi các mặt hàng này đã đủ tiêu chuẩn về chất lượng hoặc lao động. TPP khác vậy. Chính bản thân TPP sẽ tạo ra các điều luật quốc tế có khả năng điểu chỉnh chính sách và hướng đi của luật pháp trong từng quốc gia thành viên. Nói một cách khác, các điều luật của các quốc gia thành viên sẽ phải tuân theo định hướng của TPP. Nhiều điều luật trong TPP còn có ảnh hưởng thay đổi chế độ pháp lý của các quốc gia. Ví dụ như điều luật khuyến khích các thành viên của TPP mở một cơ quan chính phủ, có cơ chế và cách thức hoạt động giống tại Mỹ, thực hiện phân tích ưu-nhược điểm trước khi ban hành các điều luật mới trong nước. Thỏa thuận TPP bao gồm 29 chương, trong đó chỉ có 5 chương là trực tiếp liên quan đến vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các chương còn lại đề cập nhiều vấn đề liên quan đến các chuẩn mực, tiêu chuẩn khác nhau về môi trường, chất lượng lao động, luật lệ tài chính, thực phẩm và thuốc men… *Chú ý rằng TPP sẽ bắt loại bỏ nhiều lợi ích của các công ty nhà nước (là một phần lớn của nền kinh tế Việt Nam), để tạo cơ hội cạnh tranh cho các công ty tư nhân. Với hiệp định TPP, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP. Tòa án đặc biệt này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công ty quốc tế. Các thành viên tham gia TPP đều đã phải ký một thỏa thuận giữ bí mật về tiến trình thương lượng chi tiết các điều luật của TPP. Các nước này chỉ được tiết lộ những thông tin trên đến các cơ quan chính phủ, tổ chức, và cá nhân có liên quan trực tiếp đến tư vấn chính sách giao dịch. *Hiện tại, một số chương của TPP có thể tìm thấy tại wikileaks - kênh chuyên đăng các thông tin tuyệt mật. Theo Ezlaw, mọi người dân Việt Nam, đặc biệt nhất là các nhà trí thức, luật sư, doanh nghiệp, khởi nghiệp... cần phải biết rõ và nhiều hơn về TPP - sự kiện lớn sắp xảy ra với Việt Nam và thế giới. Theo EZLAW BLOG
TPP không phải là một giấc mơ màu hồng
Chúng ta được đánh giá là sẽ hưởng lợi khá nhiều từ Hiệp định TPP nhưng là một nền kinh tế nghèo, Việt Nam sẽ phải đáp ứng hàng loạt quy định hết sức cam go. Việt Nam được gì? “Đánh giá từ Viện Peterson thì Việt Nam sẽ là nước có lợi nhiều nhất từ TPP” - Vox trích chuyên gia Tyler Cowen viết: “Các anh hiểu chứ? Các nước nghèo nhất sẽ là những người được lợi nhất”. Nhưng Kimberly Ann Elliott - kinh tế gia tại Trung tâm Nghiên cứu về phát triển toàn cầu (CGD), người nghiên cứu về tác động của chính sách thương mại toàn cầu đối với người nghèo - thì nói vấn đề phức tạp hơn vậy. Elliott không hoàn toàn chống hay ủng hộ nhưng theo bà, tác động của TPP không lớn như các nhà kinh tế học đánh giá. Những người ủng hộ TPP thường phóng đại về lợi ích nó sẽ có cho các nước nghèo, trong khi TPP cũng có những tác động có hại đối với họ. Trên góc độ nào đó, TPP đặc biệt ý nghĩa với Việt Nam và Nhật Bản - 2 nước trong TPP không có hiệp định thương mại tự do lớn nào với Mỹ và các nền kinh tế lớn khác của TPP. Lập luận cơ bản với TPP lúc này là sẽ giảm các hàng rào thuế quan vào các nước giàu để có thể giúp tăng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo. Việt Nam được hy vọng sẽ có lợi không chỉ với các nước trong khối mà còn với các nước cạnh tranh ngoài khối nhưng có sản phẩm tương ứng Bangladesh hay Campuchia. “Một số nước kém phát triển nhất ở châu Á, đặc biệt là Bangladesh và Campuchia, hiện tại không có Quy chế Tối huệ quốc vào thị trường Mỹ” - bà Elliott nói và cho biết: “Họ phải trả chi phí, với mức thuế trung bình trên 15% với các hàng hóa quần áo xuất khẩu vào Mỹ. Nếu Việt Nam được tiếp cận thêm vào thị trường Mỹ, điều đó sẽ có ảnh hưởng lớn đến các nước này”. Nhưng mọi thứ không phải là “màu hồng” với Việt Nam - nền kinh tế kém phát triển nhất trong TPP. Các hiệp định thương mại thường bao gồm quy định về “xuất xứ nguồn gốc” để xác định hàng hóa từ đâu. Điều này là để nhằm cản các nước lợi dụng những nước trong hiệp định thương mại tự do để biến họ thành trạm trung chuyển vào một thị trường lớn - với Việt Nam, đó là trường hợp của Trung Quốc. Việt Nam là nước nhập khẩu rất nhiều nguyên liệu may mặc từ Trung Quốc. Hầu hết các nước châu Á cũng đều nhập nguyên liệu từ Trung Quốc. Để chặn điều này, Mỹ đòi yêu cầu nguyên tắc “từ sợi trở đi” (hàng hóa chỉ được hưởng mức thuế ưu đãi nếu xác định là “từ sợi trở đi” đều được sản xuất trong TPP). Theo bà Elliott, trong lĩnh vực may mặc, nguyên tắc căn bản về xuất xứ đối với Mỹ là “từ sợi trở đi”. Điều đó có nghĩa là từ sợi, vải cho đến sản phẩm cuối cùng, tất cả đều phải được sản xuất từ các nước trong khối. Theo các chuyên gia, với Việt Nam, Mỹ sẽ cho phép một lượng nguyên liệu nhất định từ bên ngoài trong một khoảng thời gian ngắn. Khi vượt quá lượng này thì quy định “từ sợi trở đi” sẽ được áp dụng chặt và hàng hóa sẽ không được hưởng thuế ưu đãi nếu không đáp ứng về xuất xứ. Với quy định này, lợi ích từ TPP thực tế sẽ không cao như các dự đoán ban đầu khi hiện tại, phần lớn nguồn nguyên liệu về dệt may, giày dép của Việt Nam vẫn là từ Trung Quốc. “Tôi bảo đảm là bất kể chúng ta chấp nhận thế nào trong hiệp định thương mại, nguyên tắc xuất xứ sẽ khiến Việt Nam không thể tận dụng được các quy định giảm thuế này” - bà Elliott nhận xét. Quy định ngặt nghèo chính là cơ hội cải cách Một quy định chặt hơn nữa của TPP sẽ là quyền sở hữu trí tuệ. Quy định này sẽ ảnh hưởng nhiều tới các nước nghèo, như làm tăng giá các loại dược phẩm được Mỹ bảo hộ bản quyền và sẽ giảm khả năng tiếp cận tới các công nghệ mới (do chi phí trả bản quyền cao). Hiện các nước nghèo đang phản ứng rất mạnh về vấn đề này để đòi Mỹ nhượng bộ. Theo họ, quy định về bản quyền trí tuệ không hợp lý và việc áp dụng quy định chung với tất cả các nước như vậy là không công bằng. Bà Elliott nhận định: “Về sở hữu trí tuệ, các nước ở các trình độ phát triển khác nhau có lợi ích khác nhau. Có quy định chung về vấn đề này không phải là cách hay”. Ngoài ra, các quy định về doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của chính phủ, môi trường quyền sở hữu trí tuệ cũng là những vấn đề Việt Nam sẽ gặp khó. Nhưng các quy định ngặt nghèo của TPP cũng là hy vọng để Việt Nam có thể tiến hành các cải cách để có thể thúc đẩy tăng trưởng. Frederick Burke, Giám đốc điều hành Hãng luật Baker & McKenzie ở Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn đã đánh giá hiệu ứng của TPP với Việt Nam sẽ là rất lớn. “Mọi người thấy Việt Nam tiếp tục với chiến lược hội nhập một cách hiệu quả, chắc chắn sẽ thu hút nguồn đầu tư lớn. Chúng ta đã bắt đầu thấy đầu tư tăng ở lĩnh vực bất động sản, vốn nước ngoài đã đổ vào để xây dựng các dự án lớn mới... Tất cả đều là tín hiệu tốt. Hiệu ứng của nó như vậy thực tế đã bắt đầu ngay từ bây giờ”. Chạy đua với năm 2016 TPA là mảnh ghép cuối cùng quan trọng nhất vào lúc này đối với đàm phán TPP. Có thể nói, đây là rào cản lớn nhất khiến đàm phán TPP chưa thể kết thúc sau khi bế tắc suốt 18 tháng qua. Với TPA, khi hiệp định TPP được ký kết và đệ trình, Quốc hội Mỹ sẽ buộc phải bỏ phiếu chấp thuận hoặc là bác bỏ hiệp định chứ không được phép thay đổi nội dung. Với 11 nước còn lại đang đàm phán TPP, TPA là phép bảo đảm để các kết quả đàm phán trong suốt mấy năm cam go không bị lật ngược lại. Thượng viện Mỹ sẽ còn đối mặt với những ngày tranh luận căng thẳng về các chi tiết của dự luật TPA này. Song, giới quan sát đang hy vọng TPA có thể sẽ được thông qua ở thượng viện trong tuần tới, trước kỳ nghỉ lễ cuối tháng 5. Hầu hết nghị sĩ trong chính Đảng Dân chủ của ông Obama ở cả hạ viện lẫn thượng viện đều chống TPA và TPP bởi cho rằng các hiệp định thương mại sẽ khiến công nhân ở Mỹ mất việc làm; phe Cộng hòa cũng chống nhưng với số lượng nhỏ. Về mặt thủ tục, TPA sẽ còn cần được cả Thượng viện và Hạ viện Mỹ bỏ phiếu thông qua trước khi được tổng thống ký thành luật. Cuộc chiến ở hạ viện dự kiến cũng cam go không kém ở thượng viện vì liên quan đến một loạt ngành công nghiệp chủ chốt từ ô tô, thép tới giày da và dược phẩm - với các lực lượng lobby vô cùng hùng hậu. Ở Hạ viện Mỹ, Tổng thống Obama cũng đang trong thế khó khi chỉ có chưa đầy 20 nghị sĩ Dân chủ ủng hộ dự luật này. Bà Nancy Pelosi của Đảng Dân chủ, thủ lĩnh phe thiểu số hạ viện, cũng từ chối ủng hộ tổng thống. Thách thức của chính quyền Obama lúc này là phải sớm kết thúc đàm phán vì càng để muộn thì chính trường Mỹ sẽ càng rơi vào vòng xoáy của chạy đua bầu cử năm 2016, khi đó mọi thứ sẽ càng phức tạp. Đánh giá chung là TPP sẽ không thể được phê duyệt nếu kéo dài đến năm sau, khi cuộc đua tổng thống vào giai đoạn nước rút. Phía quan chức Mỹ cho biết kể cả sau khi đàm phán kết thúc thì sẽ cần nhiều tháng để hiệp định có thể trình ra quốc hội. Vì vậy, hiện họ cần TPP phải kết thúc đàm phán sớm trong tháng này hoặc tháng sau để có thể phê duyệt trước cuối năm nay. Các nước tham gia TPP gồm có Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam và Mỹ. GDP của 12 nước tham gia đàm phán là khoảng 28.000 tỉ USD, tương đương 40% GDP toàn cầu. Theo LAO ĐỘNG ONLINE
Những nước cờ sai lầm của Trung Quốc đã khiến Nhật Bản trỗi dậy
Diễn biến mới nhất ở Biển Đông Sự nôn nóng cùng dã tâm 'nuốt trọn' Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay 'tháo xích' cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh - Nhật Bản. Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự. Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa... Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến. Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật. Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc 1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột. Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản. Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào. Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe - một người được Mỹ ủng hộ - lên làm Thủ tướng Nhật Bản. Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc. Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế. Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối "quốc nhục" 100 năm chưa trả hận. Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị. Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới. Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo. Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định. Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn. Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới. Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương. Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến. Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại. Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: "Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường." Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”. Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là "chiến trường chính" của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó. Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể. 2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời” Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi. Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã "đuổi" được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương. Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” ('Tao guang yang hui' Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả. Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả. Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ. Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần "ngay và luôn". Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận. Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành "vùng nóng", có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào. Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình. Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông? Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông - một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới - cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này. Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh "bóp méo" là thách thức, tuyên chiến. Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông. Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc "giãy lên như đỉa phải vôi". Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay "tuần tra" trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự. Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ… Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung. Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây? Theo ĐẠI LỘ