phamhoanganh
500+ Views

Chiến Tranh Việt Nam Giai Đoạn 1945 – 1975

phamhoanganh
2 Likes
1 Share
2 Comments
Suggested
Recent
Chiến tanh là tội ác
thích cái cover quá
Cards you may also be interested in
Những pháp thuật đáng sợ của Ninja
1. Ninja - Những huyền thoại bí ẩn thời cổ Ninja là danh xưng để chỉ những cá nhân hay tổ chức đánh thuê chuyên về hoạt động bí mật từng tồn tại trong lịch sử Nhật Bản về nghệ thuật không chính thống của chiến tranh từ thời kỳ Kamakura (1192 - 1333) đến thời kỳ Edo (1603 - 1868). Các chức năng của ninja bao gồm: gián điệp, phá hoại, xâm nhập, ám sát, thậm chí có thể tham gia tập kích đối phương trong một vài trường hợp nhất định. Do đặc thù của mình, ninja thường bị bao phủ bởi bức màn bí mật, nên có rất ít tài liệu ghi nhận. 2. Phi tiêu của Ninja Hầu hết các kỹ thuật của ninja cổ xưa đều bị thất truyền, nhưng rất nhiều các tổ chức vũ trang đặc biệt của quân đội và cảnh sát của nhiều quốc gia trong quá khứ và hiện tại vẫn duy trì huấn luyện các kỹ thuật tương đồng với các ninja trong những nhiệm vụ đặc biệt hoặc bí mật như SEAL, SWAT, Đặc công... 3. Thuật ẩn hình của Ninja Điểm đặc biệt nhất của Ninja là thuật ẩn hình và khinh công. Ninja có thuật ẩn hình là dùng cho việc mưu sát các đại thần Nhật Bản thời xưa. Ninja mặc áo đen, che kín mặt, chỉ để hở đôi mắt, đơn giản là để thực hiện nhiệp vụ vào buổi tối vì khi đó kẻ thù sẽ khó mà phát hiện được. Ninja chỉ khéo léo vận dụng những vải màu trùng với cây cối hay mái nhà để ẩn núp khi kẻ thù truy đuổi và họ đã thành công trong chuyện này. Nếu chú ý sẽ thấy Ninja luôn chạy từng bước rất ngắn, như vậy họ điều khiển được trọng lượng và không gây ra tiếng động… uyển chuyển không khác gì bước chân của mèo. Khi đi Ninja bước tréo chân và nhanh, tạo cảm giác như đứng yên một chỗ vậy. Lúc ẩn hình thì họ chỉ cần lôi ra một mảnh khăn có màu giống thân cây và ôm vào thân cây thì bạn dù có đứng gần ngay bên cạnh cũng chưa chắc đã nhận ra. Dựa trên các địa hình, thuật này bao gồm: Độn thổ: tức là họ chuẩn bị những hố đất, rãnh đất sâu hoặc những mảnh vải trùng với màu đất. Khi gặp nguy hiểm, họ có thể núp dưới hố đất, rãnh đất, hoặc trùm vải lên người. Đối thủ rất khó phát hiện. Độn thuỷ: tức là lặn dưới nuớc để trốn kẻ thù. Vào năm 2 tuổi, mỗi người luyện Ninja phải bắt buộc lặn được dưới nước tối thiểu 2 giờ đồng hồ. Nếu cần ở dưới trong thời gian lâu hơn 2 tiếng, họ sử dụng những ống thở (luôn mang theo bên mình) họ có thể nằm sâu dưới đáy sông hay hồ và dùng ống rất nhỏ để thở. Độn mộc: tức là họ dùng những cành cây, gốc cây để làm nơi ẩn nấp, cũng giống như độn thổ, họ phải có sự nhanh nhẹn trong khi tìm chỗ nấp, họ cũng có thể sử dụng những tấm vải trùng với màu cây cối, hoặc trốn trong những tán lá dày đặc. Độn hoả: có nghĩa là dùng lửa để chạy trốn, phương pháp này chỉ dùng khi Ninja tấn công vào mục tiêu là những ngôi nhà đông người và khi cần chạy trốn, họ sẽ phóng hoả ngôi nhà hoặc bất cứ vật gì dễ cháy để làm rối loạn quân địch, phương pháp này cũng có thể hiểu theo cách, họ sẽ dùng vật dễ gây cháy nổ (thuờng là một loại mìn có hình như quả trứng gà), khi cần họ sẽ phóng ra để làm lui đường tiến của địch, sau đó dùng thuật khinh công hoặc phi thân để chạy trốn, nếu không họ sẽ dùng các thuật độn thổ, độn thuỷ, độn mộc để ẩn núp, đánh lừa đối phuơng. Độn kim: thuật này Ninja rất ít dùng vì nó phát huy tác dụng rất ít. Thuật này rất đơn giản, trong khi bị rất nhiều người truy kich tấn công, Ninja sẽ bỏ lại rất nhiều tiền bạc trên đường họ vừa chạy, mục đích là để những kẻ truy đuổi nổi lòng tham, sinh ra tự hạ sát lẫn nhau và làm chậm tiến độ truy đuổi. Phương pháp này chỉ sử dụng có hiệu quả khi Ninja bị truy kích bởi một đám người tham lam, đám quan quân hỗn loạn hoặc người làm trong nhà của đối tượng Ninja cần xâm nhập. Ngoài ra, một số truờng phái Ninja còn sử dụng một số thuật pháp rất đáng sợ như: phân thân, thế thân… Với thuật thế thân và phân thân phải là những Ninja có trình độ thượng thừa mới có thể sử dụng mà không bao giờ bị phát hiện. Khi đối phương mạnh hơn mình, Ninja dùng một loại bùa chú để nhân đôi hoặc nhân ba con người của mình, với phương pháp này đối thủ dù mạnh cũng không thể chống đỡ nỗi cùng lúc với nhiều người có trình độ võ thuật giống hệt nhau. Một thuật nữa, đó cũng gọi là phân thân nhưng Ninja không dùng bùa chú mà chỉ dựa vào khả năng nhanh nhẹn của mình, với chiêu thức làm hoa mắt đối phương, đối phương sẽ không thể nào phân biệt đâu là ảo ảnh họ tạo ra và đâu là hình ảnh thật sự của họ. Thế thân cũng gần giống như phân thân, Ninja dựa vào sự nhanh nhẹn của mình để thoát thân trong gang tấc, vật thế thân họ sử dụng thường là một khúc gỗ hoặc một tấm vải. Khi đối phương tấn công, cảm thấy nguy hiểm, ninja lập tức sử dụng thuật này, họ nhanh chóng chuyển đổi vị trí, vật mà đối phương đánh trúng chỉ là một khúc gỗ còn người thật của Ninja thì đã ngay sau lưng để tấn công đối phương rồi. 4. Thuật dùng dụng cụ hỗ trợ Do đặc thù tác chiến đặc biệt, hầu hết phải hoạt động trong khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt của đối phương, các ninja thường phải dùng rất nhiều các công cụ để hỗ trợ việc thâm nhập cũng như tấn công từ xa. Do phải mang vác, nên hầu hết các công cụ hỗ trợ phải gọn nhẹ và hầu hết là thô sơ, đòi hỏi phải có khả năng sử dụng nhiều mục đích khác nhau và phải được tập luyện thành thục. Như các kỹ thuật, dây thừng đầu có móc sắt/móc ghim (hình dạng bàn tay) để phóng chặt vào 1 điểm cao (bằng gỗ, tường đất...) và leo lên. Kỹ năng này yêu cầu phải nhanh gọn và cũng phải được tập luyện nhiều. Các loại vũ khí hỗ trợ Ninja cần thiết gồm kiếm ngắn, dao găm, phi tiêu các loại....
Khoai tây – Thuốc chữa đau dạ dày hiệu quả
Khoai tây  – Thuốc chữa đau dạ dày hiệu quả:  Không chỉ dùng để chế biến những món ăn ngon miệng, bổ dưỡng, khoai tây còn có rất nhiều công dụng như trị loét dạ dày, trị bỏng, chống ung thư, làm đẹp… Khoai tây chứa nhiều vitamin A, B, C, khoáng chất, chất xơ và protein, có công dụng làm đẹp và hỗ trợ chữa được rất nhiều bệnh như sỏi thận, tiểu đường, phù mặt, táo bón, đau dạ dày… Vì sao khoai tây chữa được bệnh đau dạ dày? Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học tại Trường Đại học Manchester (Anh) đã phát hiện khoai tây có chứa các phân tử kháng khuẩn độc đáo, có thể giúp điều trị chứng loét dạ dày và giúp ngăn chặn sự phát triển của các loại vi khuẩn lưu trú trong dạ dày, vốn là nguyên nhân gây tình trạng loét dạ dày và ợ nóng. Do đó mọi người có thể bổ sung vào cơ thể hằng ngày như là một phần của lối sống lành mạnh. Cách dùng khoai tây chữa bệnh đau dạ dày Sau đây là một vài cách chế biến khoai tây khoa học, tốt cho bệnh nhân bị đau dạ dày. Có thể ăn khoai tây mỗi tuần 4-5 bữa để vừa trị bệnh đau dạ dày, vừa trị được nhiều căn bệnh. Khoai tây còn làm đẹp da và bổ sung nhiều dưỡng chất cho cơ thể. 1. Khoai tây chữa bệnh đau dạ dày Nguyên liệu: 2 củ khoai tây, 1 muỗng cà phê nước ép gừng, 1 muỗng cà phê nước ép tỏi. Cách làm: Khoai tây đem gọt vỏ, rửa sạch và thái lát mỏng rồi chần qua nước sôi một lượt. Sau khi chần khoai tây, đem khoai tây ngâm vào nước sôi để nguội khoảng 5-7 phút, vớt ra, để ráo. Sau đó trộn nước ép gừng và tỏi vào khoai tây. Gừng và tỏi có công dụng kháng viêm và giảm viêm loét dạ dày rất tốt. Kết hợp gừng, tỏi và khoai tây thì công dụng chữa bệnh đau dạ dày sẽ tăng lên. Những người bị bệnh dạ dày một tuần vài ba lần ăn món khoai tây trộn này sẽ rất tốt. Đặc biệt, khi chế biến như thế này ăn sẽ không bị ngán, có thể chấm cùng gia vị như tương ớt hay nước tương đều rất ngon. 2. Nước ép khoai tây kết hợp các loại hoa quả bổ dưỡng khác Nguyên liệu: Khoai tây, dưa chuột, cà rốt, táo đỏ mỗi thứ 300g và 2 muỗng cà phê mật ong. Cách làm: Các loại nguyên liệu này đều sơ chế sạch sẽ, gọt vỏ và thái lát, cho vào máy xay tất cả. Xay xong các nguyên liệu này thì lọc qua rây, lấy phần nước, cho vào thêm 2 muỗng cà phê mật ong là có thể uống được. Nước ép này có thể chữa bệnh đau dạ dày hiệu quả nhờ tổng hợp nhiều vitamin, chất xơ và khoáng chất. Nên uống nước ép này 3-4 lần/tuần sau bữa ăn sáng 30 phút. Lưu ý: Khi chọn khoai tây, cần chọn củ tươi và chưa mọc mầm vì chất độc solanin có trong thịt củ khoai tây đang mọc mầm và mầm không tốt cho cơ thể. Chúc các bạn thành công với 2 cách dùng khoai tây chữa bệnh đau dạ dày này. Ngoài ra, các bạn cũng nên biết từ xưa các thầy thuốc đã dùng củ nghệ để chữa các bệnh về dạ dày. Nghệ có chứa thành phần chất chính là Curcumin có hoạt tính chống viêm cấp tính và viêm mạn tính, chống viêm loét dạ dày và chống rối loạn tiêu hóa. Đây cũng là chất chống oxy hóa, làm lành vết thương rất tốt, tăng lượng chất nhầy trong dịch vị, bảo vệ niêm mạc dạ dày, tá tràng. Trong dân gian thường dùng nghệ vàng trộn với mật ong làm thuốc chữa viêm loét dạ dày có tác dụng rất tốt giúp làm giảm các triệu chứng bệnh như ợ chua, đau bụng, ăn không tiêu… Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã chứng minh củ nghệ có rất nhiều tác dụng trong hỗ trợ tiêu hóa do thúc đẩy sự co bóp của túi mật nhưng lại không làm tăng tiết axit dạ dày. Tinh chất Curcumin trong củ nghệ cũng ức chế được các khối u ở bộ phận này. Do đó, nghệ là dược phẩm tốt đối với bệnh nhân viêm loét dạ dày, tá tràng. Nhưng sử dụng nghệ tươi có nhiều bất tiện nên các bạn hãy sử dụng Nghệ Micell ADIVA để chữa bệnh đau dạ dày cho mình. Công dụng tuyệt vời của Nghệ Micell ADIVA Như đã nói ở trên, nghệ là dược phẩm tốt đối với bệnh nhân viêm loét dạ dày, tá tràng.  Và tác dụng thần kỳ đó là do trong nghệ có chất Curcumin. Các nhà khoa học đã tinh chế Curcumin từ nghệ. Và thế hệ mới nhất là Nghệ Micell ADIVA. Tinh chất Curcumin có trong Nghệ Micell ADIVA có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn cực mạnh, giúp hỗ trợ điều trị và ngăn ngừa các bệnh về dạ dày. Nghệ Micell ADIVA được sản xuất theo công nghệ tiên tiến Nano-micelles, giúp tạo ra những hạt phân tử Curcumin với kích thước siêu nhỏ chỉ 30 nm và kết hợp thêm 1 nhóm phân tử micells có đầu ưa nước, có khả năng hấp thu hoàn toàn vào cơ thể chỉ sau 1 giờ 10 phút, phát huy sinh khả dụng gấp 185 lần so với tinh nghệ thông thường. Một viên tinh chất nghệ ADIVA chứa 720 mg Novasol Curcumin, tương đương 5,5Kg nghệ tươi. Nghệ Micell ADIVA được sản xuất và nhập khẩu 100% từ Cộng hòa Liên bang Đức. Như vậy các bạn thấy Nghệ Micell ADIVA đã khắc phục nhược điểm hấp thu kém của các sản phẩm thông thường, vượt trội hơn so với các tinh nghệ Nano Curcumin cũ, giúp hỗ trợ điều trị và ngăn ngừa bệnh viêm loét dạ dày. Nếu bạn luôn quan tâm tới sức khỏe của mình, còn chờ gì không nhấc máy gọi tới đường dây nóng:  Hotline: 1900 555 552 Nghệ Micell ADIVA  sản xuất 100% tại Đức Hoặc truy cập vào  NGHỆ MICELL ADIVA  website: https://adiva.com.vn/ Lưu ý: Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
10 vũ khí và chiến thuật đáng sợ trong chiến tranh cổ đại
Tâm lý chiến, vũ khí hóa học hay còi tử thần, là những vũ khí và chiến thuật đáng sợ từng được áp dụng trong chiến tranh cổ đại. 1. Còi tử thần của người Aztec Cách đây vài thập kỷ, các nhà khảo cổ học tìm thấy những đồ tùy táng có hình đầu người trông rất kỳ dị trong một ngôi đền của người Aztec ở Mexico. Cho rằng chúng chỉ là đồ chơi hay vật trang trí, họ lên danh sách và cất giữ chúng trong nhà kho. Tuy nhiên, vài năm sau, họ mới phát hiện chúng chính là những chiếc còi tử thần phát ra âm thanh chói tai giống như tiếng thét. Người Aztec cổ đại dùng chúng trong tế lễ hay chiến đấu nhằm uy hiếp quân thù. Trong các trận chiến, âm thanh đáng sợ của hàng trăm chiếc còi tử thần hợp lại có tác động tâm lý rất lớn, khiến kẻ thù mất phương hướng và nhụt chí. Nó giống như "tiếng người rú lên vì đau đớn, tiếng gió rít hay tiếng gào thét của hàng nghìn thây ma". 2. Kỵ binh giáp sắt Vào thế kỷ 7-8 trước Công nguyên, chiến xa dần được thay thế bởi các đơn vị kỵ binh ở vùng Cận Đông. Một số đơn vị được trang bị nhẹ và giao nhiệm vụ quấy rối kẻ thù hoặc truy kích quân địch đang trên đường hành quân. Một số khác được trang bị nặng, có nhiệm vụ tập kích nhằm phá vỡ đội hình địch. Đơn vị kỵ binh được trang bị nặng nhất thời cổ đại là kỵ binh cataphract. Từ "cataphract" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "bọc giáp toàn bộ" hay "kín mọi phía". Tuy nhiên, cataphract không phải là sản phẩm của người Hy Lạp. Nó được dùng để chỉ quân đội của Đế chế Seleucid vào khoảng thế kỷ 4 trước Công nguyên, sau khi họ mở nhiều chiến dịch quân sự chống lại các nước láng giềng ở phía đông. Thông thường kỵ binh cataphract được điều động khi cần tấn công ồ ạt vào chiến tuyến kẻ thù. Nhờ bộ giáp nặng mà kỵ binh cataphract có thể giáng cho địch một đòn mạnh mẽ. Nói về sức mạnh của kỵ binh cataphract, sử gia Tacitus viết rằng "khi họ tấn công kẻ thù từ trên lưng ngựa, hầu như chẳng có một chiến tuyến nào có thể cản được họ". Sức mạnh vô địch của kỵ binh cataphract cũng có thể có tác động tâm lý lên kẻ thù, sử gia Cassius Dio nói. Miêu tả thất bại của Crassus tại trận chiến Carrhae, Dio viết rằng "nhiều kẻ chết vì khiếp đảm ngay từ đợt tấn công đầu tiên của các kỵ sĩ cầm giáo này". Tiếng tăm của kỵ binh cataphract càng trở nên lừng lẫy hơn khi Heliodorus và Plutarch tuyên bố rằng họ mạnh đến mức có thể một phát đâm chết hai người. 3. Chất độc Từ lâu con người đã sử dụng chất độc làm vũ khí. Thời cổ đại, người ta tẩm thuốc độc lên vũ khí săn bắn để nhanh chóng giết chết kẻ thù hay con mồi. Khi đã hiểu rõ những điểm mạnh của chất độc, người ta chế tạo ra nhiều công cụ và vũ khí chuyên dùng với chúng. Các nhà nghiên cứu cho rằng các công cụ giết người tinh vi và bí ẩn hơn có lẽ chỉ dành riêng cho những thành viên có địa vị cao trong bộ tộc, khiến cho người ngoài dễ lầm tưởng rằng cái chết của họ do một thế lực thần bí nào đó gây ra. Những cái chết bất thình lình này thường bí ẩn và khó hiểu đến mức ở một số nền văn hóa, người ta gán các chất độc này với tà ma, quỷ thần và các sinh vật đến từ thế giới bên kia. Vũ khí tẩm độc xuất hiện đầu tiên trong thần thoại Hy Lạp cổ đại xoay quanh chuyện Hercules tẩm độc mũi tên bằng nọc độc của quái vật Hydra. Sử thi của Homer cũng nhắc đến việc sử dụng vũ khí tẩm độc trong trận chiến thành Trojan. Người xưa sử dụng vô vàn cách khác nhau để tiêu diệt kẻ thù bằng chất độc. Ví dụ, người Hindu tẩm độc vào thức ăn của kẻ thù, người Trung Quốc đốt cây có chứa độc tố để tạo ra thứ gọi là "sương mù săn đuổi linh hồn", hay người Hy Lạp thả hoa lê lư có chứa độc tố xuống các cầu dẫn nước quan trọng để đầu độc nguồn nước. Ngay cả Leonardo de Vinci cũng nhắc đến câu chuyện về một con tàu lớn chứa đầy hỗn hợp gồm lưu huỳnh, thạch tín và gỉ đồng để tấn công tàu địch. Khi hít phải hơi từ hỗn hợp này bốc lên, các thủy thủ sẽ bị ngạt thở ngay tức khắc. 4. Chiến xa Chiến xa là thứ vũ khí ưu việt trong giai đoạn Tân Vương Quốc của Ai Cập cổ (thế kỷ 16-11 trước Công nguyên). Trên thực tế, nó được coi là một siêu vũ khí của thế giới cổ đại. Lịch sử của chiến xa bắt đầu từ trước khi nó xuất hiện tại Ai Cập cổ đại hơn một thiên niên kỷ. Vào năm 1927-1928, khi đang khai quật khu vực Nghĩa trang Hoàng gia Ur thuộc Iraq ngày nay, nhà khảo cổ học người Anh Leonard Woolley đã tìm thấy một cổ vật được gọi là Cờ hiệu Hoàng gia Ur (có niên đại vào thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên). Một mặt của cổ vật này khắc họa cỗ máy chiến tranh vùng Lưỡng Hà có hình thù giống như một chiếc xe kéo bốn bánh được kéo bởi bốn con lừa. Người họa sĩ còn giải thích cách vận hành thứ vũ khí này bằng các hình vẽ mô tả trạng thái chuyển động khác nhau của nó. Những con lừa này đầu tiên là đi, sau đó là chạy nước kiệu và cuối cùng là phi nước đại. Để người xem hiểu rằng đây là một vũ khí chiến đấu, người họa sĩ còn thêm vào bức vẽ hình ảnh một hoặc hai kẻ địch bị chiến xa đè nát. Người Ai Cập cổ đại sử dụng chiến xa chủ yếu để bảo vệ bộ binh. Vì địa hình của Ai Cập và Canaan không thích hợp để triển khai chiến xa hạng nặng, người Ai Cập dùng chiến xa như những bệ bắn di động thay vì dùng chúng để tấn công trực diện quân thù. Các chiến binh trên chiến xa được trang bị cung, tên và giáo ngắn. Không chỉ sử dụng chiến xa để bắn tên như mưa vào quân địch, người Ai Cập còn dùng cỗ máy chiến tranh này để truy đuổi quân thù đang tháo chạy. 5. Lửa Hy Lạp "Lửa Hy Lạp" hay "Lửa Biển", là thứ vũ khí xuất hiện đầu tiên tại Đế chế Byzantine vào thế kỷ 7. Theo sử gia Theophanes, nó được phát minh vào thế kỷ 6 bởi kiến trúc sư người Hy Lạp Kallinikos, từng là cư dân thành phố Heliopolis trước khi chuyển đến Baalbeck sinh sống. Điều này hiện vẫn còn gây tranh cãi. Một số sử gia khác cho rằng nó được phát minh ở Constantinople bởi một nhóm các nhà hóa học theo trường phái Alexandria. Thứ vũ khí này là một loại chất lỏng. Người ta đổ nó vào những cái bình rồi dùng máy bắn đá ném vào tàu địch hoặc dùng vòi để phun. Nó tự bốc cháy. Điều đáng chú ý là lửa vẫn cháy khi ở trong nước và việc đổ nước vào đám cháy chỉ làm cho nó càng lan rộng ra mà thôi. Vì thế, rất khó kiểm soát được lửa. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại và thương vong lớn cho các chiến thuyền của Byzantine. Loại vũ khí này góp phần quan trọng đem lại thắng lợi cho thành Constantinople trước quân đội Arab và nhiều đội quân xâm lược khác sau đó. 6. Vũ khí sinh học Lịch sử ghi nhận những tác động ghê gớm mà dịch bệnh, ô nhiễm và chất độc có thể gây ra đối với con người. Ngay từ thời tiền sử, con người đã rút ra được nhiều kinh nghiệm và kiến thức từ những bài học đắt giá đó và vận dụng chúng một cách triệt để vào việc chế tạo ra các loại vũ khí sinh học và không ngừng sử dụng chúng trong cuộc chiến chống lại kẻ thù. Thời cổ đại, người ta chưa hiểu hết về sự lây lan của dịch bệnh, nhưng họ tin rằng xác người hoặc động vật thối rữa là nguồn bệnh. Từ năm 400 trước Công nguyên, các cung thủ người Scythia đã biết nhúng tên vào xác thối và máu dính phân. Những cung thủ người Anh thường cắm đầu mũi tên xuống đất ngay phía trước mặt mình. Làm như vậy, không những họ có thể rút mũi tên và bắn được nhanh, mà đầu mũi tên sẽ bị bẩn và dễ gây nhiễm trùng cho kẻ trúng tên. Từ năm 300 trước Công nguyên, các chiến binh Hy Lạp, La Mã và Ba Tư đã làm ô nhiễm các giếng nước bằng phân và xác động vật. Vào thế kỷ 14, Cái chết Đen, một đại dịch được cho là sự bùng phát bệnh dịch hạch lan tràn khắp châu Âu, vùng Cận Đông và Bắc Phi, gây ra thảm họa y tế lớn nhất trong lịch sử nhân loại và cướp đi sinh mạng của 75-200 triệu người. Thật đau đớn khi biết được rằng đại dịch này một phần do chính con người gây ra trong chiến tranh. Xác chết được ném qua bức tường của thành phố đang bị vây hãm nhằm uy hiếp, tạo nên mùi hôi thối không thể chịu được (bản thân thứ mùi này cũng chứa mầm bệnh) và gây bệnh truyền nhiễm cho quân thù. 7. Chiến thuật ruồi bu của người Scythia Người Scythia nổi tiếng với chiến thuật ruồi bu, được thực hiện trước khi tiến hành bất kỳ một chiến thuật nào khác như đánh nghi binh hay phòng thủ. Khi thực hiện chiến thuật này, nhiều đơn vị sẽ bao vây và tấn công mục tiêu cùng một lúc. Tuy nhiên, các đơn vị sẽ di chuyển cùng mục tiêu nhằm tiêu hao từng phần sinh lực địch và phá vỡ đội hình quân địch ngay từ bên trong. Việc di chuyển chậm chạm cùng với việc liên tục bị bắn tỉa từ xa khiến quân địch khiếp đảm và nhụt chí. Đội quân La Mã phải nếm trải điều này khi họ chỉ có thể di chuyển và chiến đấu trong vòng vây của đối phương chỉ cách đó một mét. Người Scythia đã tận dụng khoảng cách này tại trận chiến Carrhae năm 53 trước Công nguyên. "Họ (quân La Mã) co cụm lại trong một không gian chật hẹp, bị vướng vào nhau và bị bắn hạ bằng tên", sử gia người Hy Lạp Plutarch viết. Hàng rào tên dày đặc khiến quân địch dần dần mất phương hướng, vì thế mà giúp các cung thủ trên mình ngựa có thể tập trung tuyệt đối tiêu diệt quân địch. Có thể nói rằng, chiến thuật mở màn trận đánh này nghĩa là bắn tên như mưa vào quân địch, giữ chặt mục tiêu nhằm làm tiêu hao sinh lực địch, cho phép các cung thủ trên lưng ngựa bắn hú họa rồi nhắm bắn chính xác mục tiêu. 8. Vũ khí hóa học Những bằng chứng khảo cổ đầu tiên của việc sử dụng vũ khí hóa học được tìm thấy ở khu vực Dura-Europos, bên bờ sông Euphrates, Syria. Dura-Europos là thành phố La Mã rơi vào tay người Sassania vào khoảng giữa thế kỷ 3. Mặc dù không có ghi chép nào về cuộc vây hãm cuối cùng, nhưng các nhà khảo cổ Pháp và Mỹ đã tìm ra manh mối về những gì diễn ra. Nhiều cuộc khai quật thành phố Dura-Europos được tiến hành vào những năm 1920 và 1930. Các nhà khảo cổ tìm thấy một hầm mỏ của người Ba Tư và một hầm mỏ khác của người La Mã. Ngoài ra, họ còn tìm thấy xác của ít nhất 19 lính La Mã và một lính Sassania chất đống trong đường hầm. Năm 2009, sau khi nghiên cứu các chứng cứ thu thập được, người ta hiểu được những gì đã diễn ra trong cuộc vây hãm. Người Sassania đã sử dụng khí độc để tiêu diệt quân cảnh vệ La Mã. Họ ném lưu huỳnh và nhựa đường vào lửa, tạo thành một loại khí gây ngạt. Khi lính cảnh vệ La Mã hít vào, chất khí này sẽ trở thành axit sunfuric. Chỉ vài phút sau đó, quân La Mã trong đường hầm đều chết hết. Điều này xảy ra khi quân La Mã đột nhập vào hầm mỏ của người Sassania nằm ngay phía dưới hầm mỏ của họ. Người lính Sassania duy nhất bị chết có thể là nạn nhân của chính vũ khí mà anh ta sử dụng và cũng chết vì ngạt khí độc. Sau khi đường hầm đã thông, người Sassania chất xác lính thành một đống ở miệng hầm của người La Mã như bức tường bảo vệ và tiến vào tiêu diệt hầm này. 9. Tâm lý chiến Trận Pelusium là trận chiến quan trọng mang tính lịch sử diễn ra vào thế kỷ 6 trước Công nguyên. Trong trận chiến này, người Ba Tư đánh bại người Ai Cập và trở thành chủ nhân mới của vùng đất này. Trận chiến là một trong những ví dụ đầu tiên của việc sử dụng chiến tranh tâm lý. Biết việc người Ai Cập tôn thờ mèo và coi đó là biểu tượng của nữ thần Bastet, vua Ba Tư Cambyses II hạ lệnh cho binh sĩ vẽ hình thần mèo lên khiên. Người ta kể lại rằng trong suốt trận đấu, quân đội Ba Tư luôn đi sau một bầy mèo rất đông. Người Ai Cập không dám làm hại con vật linh thiêng này nên buộc phải dâng thành cho người Ba Tư. 10. Vũ khí tia nhiệt của Archimedes Người ta nói rằng nhà toán học, kỹ sư, nhà phát minh và nhà thiên văn học người Hy Lạp Archimedes (287-212 trước Công nguyên) đã sáng chế ra loại vũ khí tia nhiệt, còn gọi là "tia chết" để tiêu diệt những tàu chiến tấn công Syracuse, thành phố nổi tiếng trong lịch sử Sicily. Theo tác giả Lucian vào thế kỷ hai và nhiều thế kỷ sau đó, thứ vũ khí này tập trung ánh sáng phản chiếu từ các khiên đồng đánh bóng vào tàu đối phương khiến chúng bốc cháy. Mặc dù các nhà sử học vẫn đang tranh cãi về vũ khí này, nhưng các thí nghiệm đã chứng minh được sự tồn tại của nó là có thể. Năm 1973, nhà khoa học người Hy Lạp Ioannis Sakkas cho dựng 70 tấm gương phủ đồng chiếu vào một mô hình tàu chiến La Mã làm bằng gỗ dán ở cách đó 50 m. Khi ánh sáng phản chiếu từ các tấm gương hội tụ vào con tàu, nó bốc cháy. Năm 2005, một nhóm sinh viên từ Viện Công nghệ Massachusettes, Mỹ cũng mô phỏng thành công vũ khí cổ đại này. Họ sử dụng những mảnh gương hình vuông đốt cháy một con thuyền ở cảng San Francisco.
Zealots - Tổ chức khủng bố đầu tiên trên thế giới
Sự ra đời của tổ chức khủng bố đầu tiên trên thế giới Mục tiêu hoạt động của Zealots kết hợp giữa vấn đề chính trị và tôn giáo. Tổ chức này vừa muốn “giành lại độc lập đất nước từ Rome”, đồng thời cố gắng áp đặt lên xã hội tôn giáo nghiêm ngặt do chính họ tạo ra. Đó là vì cách hoạt động của tổ chức này. Zealots khởi nguồn bằng những tuyên bố đậm chất nhân văn nhưng lại tiến hành tranh vũ trang dưới dạng du kích, bao gồm cả việc chiến đấu trong các đô thị, khiến người dân vô tội vạ lây rất nhiều chỉ để đạt được các mục tiêu về chính trị và tôn giáo. Tuy nhiên, mục tiêu của Zealots không chỉ nhắm vào những nhà cầm quyền mà còn vào người dân Do Thái ủng hộ chính phủ. Tổ chức này xem đó là những kẻ phản bội Tổ quốc, những kẻ không đủ nhận thức về đạo đức và kết cục thường là... cắt cổ. Cụ thể, Zealots thường trừng phạt người dân bằng cách sử dụng dao găm để cắt cổ họng các tội nhân của họ tại nơi công cộng, từ đó lan truyền nỗi sợ hãi trong hàng ngũ của địch. Đó là những hành vi của một tổ chức khủng bố. Chiến lược khủng bố giết người tại nơi công cộng không chỉ đạt hiệu quả mong muốn trong việc đe dọa kẻ thù, mà còn gây tác động tâm lý sâu sắc bằng cách tạo ra một cảm giác dễ bị tổn thương trong dân chúng. Bên cạnh đó, Zealots mở rộng tầm hoạt động thông qua tuyên truyền. Để thực hiện chiến lược cuối cùng này, tổ chức thường tiến hành các cuộc tấn công chống lại người La Mã với số lượng lớn hơn họ nhiều lần, thể hiện một sự sẵn sàng đối mặt với kẻ thù dù nguy cơ bị tiêu diệt là rất lớn. Thái độ sẵn sàng liều mạng chống lại chính quyền La Mã khiến Zealots thu hút rất nhiều người xin gia nhập - giống như các tổ chức khủng bố ngày nay. Những kẻ ủng hộ Zealots cho rằng, đây là một một tổ chức anh dũng đấu tranh chống đế quốc, đặc biệt là trong tầng lớp thấp và trẻ tuổi. Sự kết thúc của Zealots Những cuộc nổi loạn của Zealots sau đó cũng không còn là đánh du kích mà trở nên công khai hơn. Thậm chí có thời điểm, giáo phái này đã chiếm được Jerusalem - nơi được xem là thánh địa của người Do Thái. Nhưng khi đã bước ra ngoài ánh sáng thì Zealots không còn là đối thủ của quân đội La Mã - đội quân mạnh nhất thời bấy giờ. Đến năm 70, khi bị bao vây tại pháo đài Masada, toàn bộ những người đứng đầu Zealots đã tự sát - đánh dấu chấm hết cho tổ chức khủng bố đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, Zealots đã tạo ảnh hưởng đến rất nhiều các tổ chức khủng bố khác sau này. Chúng cũng sử dụng chiến lực truyền cảm giác bị sỉ nhục đến với quần chúng, khiến họ căm phẫn tham gia, để rồi nhận ra những mặt tối của tổ chức nhưng không còn đường lui nữa.
16 phương pháp tra tấn rợn người thời Trung Cổ
1. Kẹp ngón tay Dụng cụ này thường được dùng để buộc nạn nhân thú tội. Ngón tay của nạn nhân sẽ được đặt vào giữa thiết bị và có thể bị kẹp tới dập nát xương. Phương pháp tra tấn này có thể được cái dài nhiều giờ gây ra cho nạn nhân rất nhiều đau đớn. Nó cũng có thể được dùng để kẹp nát ngón chân người hoặc được thiết kế lớn hơn dùng cho cả bàn chân, đầu gối, khuỷu tay hay thậm chí là đầu người. 2. Cưa tra tấn Phương pháp tra tấn kéo dài thời gian này thường được dùng để tra tấn những người bị cáo buộc sử dụng ma thuật, ngoại tình, giết người, trộm cắp hoặc xúc phạm những người lãnh đạo cấp cao. Nạn nhân sẽ bị treo ngược lên cao để máu dồn lên não gây mất máu từ từ. Sau đó, người ta dùng chiếc cưa này cắt đôi cơ thể của họ từ háng lên đầu. Tuy nhiên, những người tra tấn đôi khi chỉ cưa nạn nhân tới bụng để họ phải chịu đau đớn và một cái chết đến từ từ. 3. Chiếc nĩa của Heretic Thiết bị này thường được dùng trong những phiên tòa xét xử những người bị cho là kẻ dị giáo ở Tây Ban Nha. Nó là một thanh kim loại có hai đầu đối xứng trông như hai chiếc nĩa. Một đầu của nó được dùng để cắm phía dưới cằm người bị tra tấn, trong khi đầu kia đâm vùng da ở ngực của họ. Vì nó được thiết kế khá ngắn nên không thể đâm xuyên trúng bất kỳ cơ quan nào quan trọng trong cơ thể nên không khiến nạn nhân bị tử vong mà chỉ làm cho họ không thể cử động cổ hay nói được và gây tổn thương cho cổ của họ. Khi bị gắn thiết bị này trên người, nạn nhân sẽ bị trói hai tai về phía sau lưng để họ không thể gỡ nó ra khỏi người. 4. Máy đập đầu gối Mục đích của thiết bị tra tấn này là dùng để gây tổn thương nghiêm trọng cho các tội phạm thời Trung Cổ. Nó được chế tạo gồm 2 hàng răng nhọn ở trên và dưới và có tổng từ 3 tới 20 chiếc răng như thế. Đầu gối của nạn nhân sẽ được đặt giữa hai hàng răng nhọn và sau đó người ta ép hai hàng răng ở trên và dưới vào giữa khiến đầu gối nạn nhân bị tróc da hoặc bị nghiền nát chúng tùy ý. Ngoài ra, còn có thiết bị tra tấn được thiết kế tương tự dùng để đánh gẫy khuỷu tay, cánh tay hoặc chân tội phạm. Thiết bị này không gây tử vong cho nạn nhân của nó và thường được dùng kèm với các thiết bị tra tấn khác. 5. Máy chém sắt Chiếc máy chém này được thiết kế giống như một chiếc tủ sắt có hình người đứng thẳng. Nhưng bên trong nó hoàn toàn rỗng đủ chỗ cho 1 người có thể đứng gọn trong đó. Đầu của chiếc tủ sắt được thiết kế rỗng, nơi người tra tấn có thể dùng những vật sắc nhọn đâm vào bên trong đầu nạn nhân, trong khi đó cánh cửa của nó được thiết kế có những chiếc đinh sắc nhọn có thể đâm xuyên qua người nạn nhân gây ra một cái chết đau đớn. 6. Quan tài sắt Tùy theo mức độ phạm tội, người ta bị nhốt trong chiếc quan tài có hình người được làm bằng kim loại này lâu hay nhanh. Họ có thể bị bỏ lại đó cho tới khi chết hoặc được đưa tới nơi công cộng cho công chúng ném đá và đâm vào người họ tới chết. 7. Khung Judas Thiết bị tra tấn này được thiết kế như một ghế ngồi hình kim tự tháp. Nạn nhân sẽ được treo ở phía trên đỉnh kim tự tháp và được từ tự hạ xuống thẳng xuống đỉnh đó trước sự mắng nhiếc của những người chứng kiến. Không chỉ dừng lại đó, nó còn có thể đâm xuyên qua người nạn nhân, kéo dài đau đớn của họ cho tới lúc tử vong. 8. Máy kéo Cỗ máy này được thiết kế có hình chữ nhật, bộ khung làm bằng gỗ và 2 thanh trượt đặt ở 2 đầu, nơi hai tay và hai chân của người phạm tội sẽ bị cột chặt vào đó. Bên cạnh đó là một tay cầm được dùng như đòn bẩy dùng để di chuyển các thanh trượt lên xuống. Khi các thanh trượt di chuyển, khớp xương của người nằm trên đó cũng sẽ bị kéo căng ra theo và khi bị kéo căng hết mức, nó sẽ dẫn tới hiện tượng đứt các cơ, xương sụn của người nằm trên đó. 9. Bánh xe tra tấn Bánh xe này được thiết kế giống một bánh xe ngựa nhưng được dùng cho mục đích tra tấn và trừng phạt những người phạm tội ở thời Trung Cổ. Sau khi bị trói chặt tay và chân vào đó, họ sẽ bị đánh cho gẫy các xương khớp và sau đó là bị bỏ mặc như thế cho tới khi chết vì đói và khát hoặc bị lũ chim tới mổ thịt. 10. Con bò bằng đồng Cỗ máy tra tấn này được thiết kế bởi Perillos ở Athens, Hy Lạp. Nó được đúc bằng đồng thau mang hình dạng của một con bò rỗng ruột và được thiết kế có một cánh cửa có thể mở ra ở bên cạnh. Người nào bị kết tội sẽ bị nhốt vào bên trong bụng của con bò đồng trong khi người ta đun lửa nung bên dưới làm cho họ bị nướng cho tới khi chết ở bên trong. Đầu của con bò này được thiết kế có hình ống, rỗng, thông ra ngoài. Trong khi bị nung nóng bên trong con bò bằng đồng thau, những kẻ phạm tội sẽ hét lên vì đau đớn và tiếng hét đó vang lên qua đầu con bò nghe giống như tiếng rống lên đau đớn của những con bò thật. 11. Đóng cọc Hình phạt này không hề kỳ lạ như bạn tưởng khi mà đây được xem là một sở thích tra tấn biến thái của bá tước Vlad – kẻ luôn được người ta biết đến với cái tên Dracula. Ở Romania, vào thế kỷ 15, tù nhân bị buộc phải ngồi trên những cọc nhọn và sắt. Sau đó, những cái cọc từ từ được nâng lên và xuyên qua người họ. Hình thức này sẽ khiến nạn nhân chết trong 3 ngày vì bị mất máu và thủng nhiều bộ phận trong cơ thể. Người ta còn đồn rằng Vlad đã sử dụng kiểu tra tấn này với hơn 20.000 người để giải trí trong suốt những bữa ăn của hắn. 12. Tra tấn bằng chậu Còn được biết đến với cái tên “ngồi trong chậu", kiểu tra tấn này thật sự khiến những tội nhân thời ấy khiếp đảm. Tù nhân sẽ được đặt vừa vặn trong một cái chậu gỗ, thứ duy nhất được phép thò ra ngoài chính là gương mặt . Sau đó, người hành xử sẽ phủ đầy mặt họ bằng sữa và mật ong.Thú vị ư ? Không hề ! Mật và sữa sẽ thu hút những con ruồi đậu lên đó. Những kẻ tội đồ cũng sẽ được cho ăn thường xuyên cho đến khi cái chậu ngập đầy chất thải của mình và phải chết vì thối rữa do giòi bọ chỉ trong một vài ngày sau đó. 13. Đầu Tưới Bằng Chì Những dụng cụ này thường đã được đổ đầy bằng dầu sôi, nước nóng 100 độ hoặc chì nóng chảy trước khi được cọ xát vào các bộ phận trên cơ thể tù nhân như ngực, bụng, đùi hay mông. Đặc biệt, một lượng bạc nóng chảy sẽ được đổ vào hốc mắt của nạn nhân để họ không thể nhìn thấy được quá trình thụ án. 14. Đóng Đinh Phương pháp này đã có từ thời cổ đại và phân bố chủ yếu ở các nước phương tây, tuy nhiên, ngày nay vẫn có các ghi nhận về một số nước vẫn áp dụng chế độ đối xử tàn bạo này. Việc đóng đinh một người lên thánh giá được mọi người biết đến qua sự kiện chúa Giê Su bị đóng đinh trên cây thập tự. 15. Vòng Cổ Nhục Hình Nhục nhã và đau đớn, những tội nhân chịu hình phạt này phải có một sự chịu đựng phi thường để vượt qua tất cả. Họ sẽ được đeo một chiếc vòng cổ đặc biệt làm bằng kim loại hoặc gỗ. Người ta thường giấu nhẹm sự tàn bạo của hình phạt này bằng cách lấp lửng những chi tiết như nạn nhân sẽ không thể hạ thấp đầu, ăn uống hoặc nằm xuống trong cả một tuần lễ. 16. Treo Cổ, Kéo Và Tứ Mã Phanh Thây Trong suốt thời trung cổ, những hình phạt đối với tội phản quốc ở nước Anh luôn đa dạng, từ treo cổ, kéo giãn hay phanh thây ở nơi công cộng đểu rất nổi tiếng. Tuy nhiên chúng đã bị bãi bỏ từ năm 1814 sau khi gây ra hàng loạt cái chết tức tưởi và rùng rợn cho vô số người. Trong những kỷ thuật tra tấn này, nạn nhân sẽ bị đặt vào trong một khung gỗ lớn trong 3-4 tiếng, sau đó sẽ bị treo cổ trong một khoảng thời gian ngắn, đủ để khiến họ đau đớn cho đến khi gần chết. Tiếp đến, những người này sẽ bị moi ruột và thiến cơ quan sinh dục, những thứ này sẽ bị đốt trước mặt họ. Cuối cùng, một đàn ngựa bốn con với 4 sợi dây sẽ làm nhiệm vụ “tứ mã phanh thây” những kẻ tội đồ.
10 vụ lừa đảo khoa học kinh thiên động địa trong lịch sử
Danh sách này bao gồm 10 vụ lừa đảo khoa học đã đánh lừa không biết bao nhiêu người cả tin và là một lời nhắc nhở con người cảnh giác trước một số “phát minh” khoa học. 10 . Jan Hendrik Schön Jan Henrik Schön (bên trái ảnh), một nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Bell tại New Jersey, có 5 bài thuyết trình được xuất bản trên tờ Nature và 7 bài trên tạp chí Science, giữa các năm từ 1998 đến 2001. Các bài báo này đều tập trung giải quyết những khía cạnh điện tử cao cấp. Những phát minh này phần lớn đều khó hiểu, thâm thúy và Schön được nhiều người đánh giá là một ngôi sao đang lên trong giới khoa học. Năm 2002, một ủy ban khoa học đã phát hiện ra rằng, hắn đã tạo nên kết quả giả ít nhất trong 16 trường hợp và phát hiện đó khiến toàn bộ đồng nghiệp, giám đốc phòng thí nghiệm Bell, và đội ngũ phụ trách xuất bản của cả 2 tờ tạp chí, những người chấp nhận kết quả của Schön phải chịu một phen xấu hổ trước dư luận. Schön, lúc đó mới 32 tuổi, nói: “Tôi phải thừa nhận rằng tôi đã gây ra một số sai lầm trong các nghiên cứu khoa học của mình và tôi rất hối hận về điều đó. Tôi thực sự tin rằng những hiệu quả khoa học đó đều có thật, thú vị và rất đáng để bỏ công sức.”. Những lời này là tất cả sự biện hộ của Schön được đăng trên tờ Nature. 9. Người khổng lồ Cardiff Người khổng lồ Cardiff là một trong những trò chơi khăm nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ. Đó là hình một người đàn ông hóa đá dài 3 mét, được phát hiện năm 1869 bởi một nhóm công nhân khi đào giếng phía sau ngôi nhà của William Newell ở Cardiff, New York. Hóa ra là, người khổng lồ này là sản phẩm của George Hull, một người vô thần sinh sống tại New York. Ông này quyết định tạo ra bức tượng để trêu chọc Turk, một mục sư dòng chính thống, người tin rằng trong kinh thánh có đoạn nói những người khổng lồ đã từng cai trị trái đất. Người khổng lồ này trở nên vô cùng phổ biến đến nỗi P T Barnum đã đề nghị mượn bức tượng trong vòng 3 tháng với giá 60.000 đô la. Sau khi bị từ chối, ông ta liền thuê người làm một bản sao y hệt và cho trưng bày. Khi bản sao này trở nên nổi tiếng hơn bản gốc, người chủ của bức tượng “thật” đâm đơn kiện Barnum. Tuy nhiên, quan tòa đã dẹp bỏ vụ kiện này với tuyên bố, trừ phi bức tượng gốc được chứng minh tính xác thực của nó, không có gì sai khi Barnum làm ra bản sao cho riêng mình. 8. Máy chuyển động vĩnh cửu Xe hơi chạy bằng nước và các cỗ máy nhiệt hạch tạo ra nhiều năng lượng hơn chúng sử dụng luôn nằm trong trí tưởng tượng của các nhà sáng chế. Charles Redheffer, sau khi kiếm được bộn tiền ở Philadelphia khi cho trưng bày một chiếc máy chuyển động vĩnh cửu đã mang nó đến New York năm 1813, nơi mà hàng trăm người đã trả 1 đô la để được chiêm ngưỡng cỗ máy này. Chiếc máy dường như có thể tự vận hành mà không cần sự trợ giúp nào cả. Cuối cùng, những người hoài nghi đã đưa cho Redheffer một số tiền lớn để họ có thể chứng minh chiếc máy này là lừa đảo. Với sự đồng ý của Redheffer, họ tiến hành gỡ bỏ một vài tấm ván dọc trên tường cạnh chiếc máy, và phát hiện ra một bộ truyền động hình ruột mèo. Bộ truyền động này đi xuyên qua tường đến tầng áp mái, nơi một người đàn ông già vừa ăn bánh mỳ vừa quay chiếc tay quay. 7. Những hòn đá nói dối Năm 1726, Johann Beringer, người thành phố Würzburg cho xuất bản những chi tiết của những hóa thạch được tìm thấy phía ngoài thành phố nhỏ thuộc xứ Bavaria này. Số hóa thạch bao gồm thằn lằn đang lột xác, chim có đầy mỏ và mắt, nhện đang nằm trên mạng, và cóc đang giao hợp. Các mảnh đá khác mà ông tìm thấy mang các ký tự YHVH, có nghĩa là Jehovah, hay là Chúa trời. Ông tin rằng đây là các sản phẩm do “quyền lực dẻo” của thế giới vô cơ tạo ra và đã nhận xét như vậy trong một quyển sách. Trên thực tế, đây là một trò đùa của các đồng nghiệp đầy ác ý. Truyền thuyết kể rằng, Beringer đã phá sản khi nỗ lực mua lại toàn bộ số sách đã được xuất bản và những hòn đá này được gọi là “những hòn đá nói dối”. Các đồng nghiệp gây ra vụ việc trên đều bị mất việc và uy tín của mình. 6. Bộ lạc Tasaday Năm 1971, một bộ trưởng của chính phủ Philippine (Manuel Elizalde) phát hiện bộ lạc thời kỳ đồ đá sống cách ly trên đảo Mindanao. Bộ lạc có tên gọi là Tasaday này có một ngôn ngữ mạnh, sử dụng công cụ bằng đá và mang những đặc tính của thời kỳ đồ đá khác. Khám phá này tiêu tốn không ít thời gian của truyền hình, lên trang bìa của tạp chí National Geographic và là chủ đề của một quyển sách bán rất chạy. Khi các nhà nhân chủng học tìm cách tiếp cận bộ lạc này, Tổng thống Marcos tuyên bố hòn đảo trở thành khu bảo tồn và cấm toàn bộ khách viếng thăm. Khi Marcos bị lật đổ năm 1986, 2 nhà báo đến thăm hòn đảo này và phát hiện ra rằng người Tasaday trên thực tế sống trong nhà, buôn bán với nông dân địa phương, mặc quần bò, áo phông và nói tiếng địa phương. Người Tasaday giải thích rằng họ chuyển vào sống trong hang và hành động như những người thuộc thời kỳ đồ đá dưới áp lực của Elizalde. Elizalde chạy trốn khỏi Philippine năm 1983, mang theo hàng triệu đô la lấy cắp được từ một quỹ được gây dựng để bảo vệ người Tasaday! 5. Những khám phá của Shinichi Fujimura Shinichi Fujimura là một trong những nhà khảo cổ học hàng đầu của Nhật Bản, cho dù tất cả các kiến thức của ông đều là tự học. Năm 1981, ông này phát hiện ra đồ đá có tuổi 40 nghìn năm. Đó chính là mẫu đồ đá lâu đời nhất được tìm thấy ở Nhật Bản và phát hiện này là bàn đạp cho sự nghiệp của Fujimura. Trong những năm tiếp theo, ông ta tiếp tục tìm thấy những mẫu vật lâu đời hơn nữa, thách thức các ranh giới đã được biết đến về thời tiền sử của Nhật Bản. Tháng 10, năm 2000, Fujimura cùng các cộng sự tìm thấy một chuỗi đá mà họ tin rằng được làm ra bởi người nguyên thủy. Họ cũng tìm thấy một số hố, theo lời họ, để cắm cột trụ cho nơi ở của người nguyên thủy. Phát hiện này có tuổi 600 nghìn năm và là những bằng chứng lâu đời nhất về sự cư trú của loài người. Sự việc này ngay lập tức trở thành tin tức quốc tế. Sau đó, ngày 5 tháng 11, tờ Mainichi Shimbun cho xuất bản ba bức ảnh trên trang nhất, ghi lại hình Fujimura đào hố ở hiện trường và chôn những “cổ vật” mà sau đó ông ta “tìm thấy” được (xem hình). Trong buổi họp báo cùng ngay, ông ta thú nhận đã cố tình chôn những hòn đá này và phần lớn các phát hiện của ông ta đều là giả mạo. Cúi đầu trong hổ thẹn, ông ta nói: “Tôi đã bị quỷ dữ cám dỗ.” 4. Trò chơi khăm về mặt trăng Tháng 8, năm 1835, một loạt bài xuất hiện trên trang nhất của tờ New York Sun. Loạt bài này liệt kê một chuỗi các khám phá thiên văn học không thể tin nổi, với sự trợ giúp của kính thiên văn cực lớn và những phương pháp đặc biệt, của nhà thiên văn học người Anh, Hiệp sĩ John Herschel. Bài báo cho biết Herschel đã phát triển “một học thuyết mới về hiện tượng sao chổi”, đã tìm ra các hành tinh trong những chòm sao khác và đã “giải và sửa chữa gần như mọi vấn đề toán học nghiêm trọng nhất trong ngành thiên văn học”. Và sau đó, bài xã luận đề cập đến thành quả tuyệt vời nhất của Herschel: ông đã tìm thấy sự sống trí tuệ trên mặt trăng. Ông đã mô tả nào rừng, nào biển, và cả các kim tự tháp màu hoa cà trên bề mặt của mặt trăng. Ông cũng không bỏ qua những đàn bò rừng bi-dông lang thang trên các bình nguyên và các con ngựa một sừng màu xanh sống trên những ngọn đồi. Bài báo này đương nhiên là một trò chơi khăm công phu. Herschel chưa bao giờ quan sát thấy cuộc sống trên mặt trăng cũng như đạt được bất cứ một thành quả thiên văn nào được nhắc đến trong bài viết. Thậm chí, ông còn không hề được biết đến rất nhiều phát mình gắn liền với tên tuổi của ông. Cho dù vậy, tờ New York Sun vẫn tiếp tục đăng bài cho tới khi công chúng phát hiện ra đó là một trò chơi khăm. 3. Di truyền học thuyết Lamac Vào thập kỷ 20, một nhà khoa học người Áo có tên là Paul Kammerer, đã thiết kế một thí nghiệm nhằm chứng tỏ di truyền Lamac (ý niệm cho rằng một sinh vật có thể đạt được các đặc tính và truyền cho đời sau của nó) là hoàn toàn thực hiện được. Vật thí nghiệm của ông này là một giống cóc có tên gọi cóc bà đỡ. Phần lớn cóc giao phối dưới nước, vì thế trên chi sau của chúng có những bướu có vảy màu đen giúp chúng có thể giữ lấy nhau khi giao phối. Tuy nhiên, cóc bà đỡ lại giao phối trên cạn và vì thế chúng không hề có những chiếc bướu này. Kammerer cho rằng, bằng cách ép cóc bà đỡ giao phối dưới nước, ông ta có thể chứng minh chúng sẽ phát triển những chiếc bướu như vậy. Kammerer cho một số các thế hệ cóc giao phối trong một bể cá đầy nước và cuối cùng công bố đã thành công trong việc tạo ra một nhóm cóc bà đỡ với những bướu đen trên chi sau. Tuy nhiên, vào năm 1926, tiến sĩ G.K. Noble đã tiến hành xem xét những con cóc nổi tiếng này và phát hiện ra những bướu đen kia chỉ là mực được bơm vào chi sau của chúng. Khi trò lừa đảo bị vạch trần năm 1926, Kammerer đã bị làm cho bẽ mặt. Ông ta quả quyết đã không bơm mực vào những con cóc và cho rằng một trợ lý thí nghiệm của ông ta đã làm điều đó. Một vài ngày sau, Kammerer tự tử. 2. Phi vụ Sokal “Phi vụ Sokal” là một trò chơi khăm của Alan Sokal (một nhà vật lý học) nhằm vào bài viết về nghiên cứu văn hóa hậu hiện đại có tên Social Text, do Đại học Duke xuất bản. Năm 1996, ông đệ trình một bài viết vô nghĩa được ngụy trang bởi các từ ngữ khó hiểu, nhằm xem liệu thế giới báo chí có “xuất bản một bài viết vô nghĩa được thêm mắm thêm muối nếu như (a) nghe nó có vẻ mùi mẫn, thú vị và (b) nếu nó làm thỏa mãn những định kiến về hệ tư tưởng của chủ bút.” Bài viết “Vượt qua các ranh giới: Tiến tới khoa học chú giải dạng biến đổi của sức hấp dẫn lượng tử”, đã được in trên tờ Science Wars năm đó. Ngay ngày xuất bản, Sokal thông báo trong một bài viết khác, bài luận trên chỉ là một trò chơi khăm. Ông nói Social Text là "sự cóp nhặt những lời giả dối cánh tả, những bài viết tham khảo xu nịnh, những câu trích dẫn phô trương và những điều vô lý rõ ràng”. Những cuộc tranh luận, đặc biệt về vấn đề đạo đức hàn lâm, nóng bỏng đã nổ ra ngay sau đó. Một ví dụ tương tự gần đây là bài viết về mạch khai căn (Rooter Paper) năm 2005. Đây là một bài viết được tạo ra một cách ngẫu nhiên trên một chương trình máy tính, sau đó được đệ trình và chấp nhận là có lý ở một hội thảo khoa học. 1. Người đàn ông Piltdown Người đàn ông Piltdown là một trò lừa nổi tiếng trong đó những mảnh vụn xương sọ và xương hàm được tìm thấy năm 1912 đã được cho là hóa thạch của một dạng người từ rất xa. Mẫu vật này được chính thức đặt tên Latin Eonthropus Dawsoni, theo tên người đã tìm ra nó là Charles Dawson. Phải đến năm 1953, người ta mới phát hiện nó là giả mạo. Mẫu vật này được tạo nên bởi xương hàm của một con đười ươi và phần xương sọ của một người đàn ông trưởng thành. Người đàn ông Piltdown có lẽ là trò lừa nổi tiếng nhất trong lịch sử. Nổi tiếng ở hai lẽ: sự chú ý tới vấn đề tiến hóa mà nó đem lại, và phải mất 40 năm người ta mới phát hiện ra nó chỉ là một vụ lừa đảo.