0
Following
2
Follower
0
Boost

Lễ hội Quan họ làng Viềm, Bắc Ninh

Nói về quan họ, người ta nghĩ tới một giá trị tổng thể về lề lối hát, tổ chức phường bạn, nghệ nhân, tinh thần kết chạ, cùng với đó là truyền thống nghệ thuật của một vùng văn hóa cổ. Tất cả những giá trị đó được biểu hiện thông qua lễ hội của các làng quan họ và lễ hội làng Viêm Xá cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tổng quan lễ hội Để tổ chức được lễ hội ở các làng quan họ, người ta phải mất nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng chuẩn bị. Ở phần lễ, trước lễ hội thường bầu ra ban tế lễ là những người có uy tín trong làng để tham gia vào quá trình tế lễ. Sau đó dân làng phải sửa soạn quét dọn các cơ sở thờ tự trong làng như Đền Vua Bà, Đền Cùng, chùa Viêm Xá, đình Viêm Xá. Đặc biệt các vật dụng trong phần lễ như tượng Vua Bà, kiệu, trang phục tế lễ đều phải được chuẩn bị từ sớm. Sau phần lễ là tới phần hội, là phần mà nhiều người mong đợi nhất, nó cũng thể hiện đời sống sinh hoạt của người dân Viêm Xá. Thường trước dịp lễ hội, các nghệ nhân quan họ Viêm Xá sẽ tới các làng quan họ xung quanh mời các liền anh, liền chị tới cùng vui hội làng. Sau đó là quá trình chuẩn bị hội làng từ việc luyện tập ca hát sau đó là trang hoàng nhà cửa, pha trà, têm trầu, nấu nướng tiệc để mời bạn tới nhà. Nước mời bạn phải là trà ướp hương sen hoặc hương nhài, hương bưởi. Cau phải được bổ miếng, lạng miếng vỏ cho thật mịn. Ngoài ra, phải chọn cau loại vừa đến hạt, còn láy trầu thì phải vừa cay vừa thơm ngon. Đặc biệt, cỗ bàn là những món ngon nhất đều được mang ra thiết đãi quan họ gồm đầy đủ các món giò, măng, miến, mọc và không thể thiếu được rượu. Xem thêm: Xem Tử Vi Ở làng Viêm Xá các lễ hội tín ngưỡng được tổ chức thường xuyên gồm lễ hội đình, lễ hội chùa, lễ hội đền Vua Bà và lễ hội đền Cùng. Các lễ hội tín ngưỡng này đều có sự liên quan đến các điểm di tích và đều có yếu tố chung là sinh hoạt Quan họ và tôn thờ Vua Bà với tư cách là tổ nghề quan họ.

Khái quát một số nét cơ bản của Phật giáo và đặc điểm Phật giáo Việt Nam

I. Một số nét cơ bản của Phật giáo: Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào Thế kỷ VI TCN tại Ấn Độ trên vùng đất thuộc Nêpan ngày nay. Đây là thời kỳ phát triển cực thịnh của Bà-la-môn giáo về cả mặt tôn giáo lẫn chính trị - xã hội. Cư dân trong xã hội Ấn Độ cổ đại lúc đó được chia thành 4 đẳng cấp: Bà-la-môn ( những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp), Sát đế lị( vua quan và tầng lớp võ sĩ), Vệ xá( những người bình dân làm các nghề như chăn nuôi, làm rộng, buôn bán, thợ thủ công), Thủ đà la (là đẳng cấp thấp nhất và chiếm số lượng lớn nhất, họ là con cháu của các bộ tộc thua trận, những người bị phá sản hoặc không có tư liệu sản xuất). Từ sự phân biên đẳng cấp nặng nề trong xã hội Ấn Độ lúc đó là một trong những yếu tố dẫn tới sự ra đời của Phật giáo, mộ trào lưu tư tưởng vừa ké thùa vừa chống lại Bà-la;môn giáo. Phật giáo ra đời không thể không nói đến vai trò to lớn của Thích Ca Mâu Ni và những người kế tục ông. Thích Ca Mâu Ni xuất thân từ tầng lớp quý tộc, mặc dù được kế vị ngôi vua nhưng ông đã từ bỏ cung điện, vợ con đẻ đi tìm con đường thoát khổ cho chúng sinh. Qua nhiều năm tìm kiếm, tu hành với nhiều cách thức khác nhau và sau 49 ngày nhập định, ngài đã tìm ra chân lý của con đường thoát khổ và trở thành bậc giác ngộ (Phật). Sau đó, ông đi truyền bá tư tưởng của mình và tập hợp những người tin theo tư tưởng ấy hình thành nên các đoàn thể Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ. Sau khi Phật Thích Ca nhập niết bàn, ở Ấn Độ đã diễn ra 4 cuộc đại hội lớn và đã hình thành hệ thống kinh điển gồm kinh, luật, luận và các nghi lễ, tổ chức. Sau đó, Phật giáo phân thành 2 phái: Tiểu thừa và Đại thừa. Xem thêm: Xem Tử Vi Giáo lý cơ bản của Phật giáo:

Đôi nét về Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt

Ý nghĩa của khái niệm “Tổ tiên” Tổ tiên là khái niệm để chỉ những người có cùng huyết thống, đã mất như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ... là những người có công sinh thành và nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ những người đang sống. Tổ tiên trong xã hội nguyên thủy có nguồn gốc là tổ tiên tô-tem của thị tộc. Từ tổ tiên tô-tem chuyển sang tổ tiên người thực là quá trình chuyển từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang chế độ thị tộc phụ hệ. Tổ tiên trong xã hội có giai cấp được thể hiện đầy đủ hơn. Họ thường là những người đàn ông giữ vị trí chủ gia đình, gia tộc, đã mất, có quyền thừa kế và di chúc tài sản theo quan niệm của chế độ phụ quyền. Trong quá trình phát triển của lịch sử, quan niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi, phát triển. Tổ tiên không còn bó hẹp trong phạm vi huyết thống - gia đình, họ tộc... mà đã mở rộng ra trong phạm vi cộng đồng, xã hội. Sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc thường gắn liền với tên tuổi của người có công tạo dựng, gìn giữ cuộc sống cộng đồng. Họ là những anh hùng, danh nhân văn hóa mà khi sống được tôn sùng kính mến, khi mất được tưởng nhớ, thờ phụng trong các không gian tôn giáo. Có khi tại các cơ sở thừa tự khác ở Việt Nam, họ là những Tổ sư, Tổ nghề, Thành hoàng làng, anh hùng dân tộc,... Ở Việt Nam, vua Hùng được xem là ông Tổ của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ và cũng là ông Tổ chung của cả 54 dân tộc, là người có công khai quốc, được thờ ở Đền Hùng - Phú Thọ. Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là "Bố Cái đại vương". Trần Quốc Tuấn, có công đánh giặc giữ nước, được tôn làm "cha" của muôn dân được thờ ở Kiếp Bạc - Hải Dương và nhiều nơi khác.